Với mong muốn khơi dậy tinh thần trách nhiệm, niềm tự hào và trân trọng truyền thống lịch sử quý giá cho thế hệ học sinh, những năm gần đây trường THPT Nguyễn Đức Thuận đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống cho học sinh thông qua các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam, thắng cảnh trên địa bàn
Vụ Bản là một huyện hình thành sớm trong tỉnh Nam Ðịnh, có lịch sử lâu đời và truyền thống cách mạng vẻ vang. Thuở Hùng Vương dựng nước, là bộ Bình Chương (một trong 15 bộ của nước Văn Lang). Là miền đất cổ, huyện Vụ Bản giàu truyền thống LSVH, có nhiều danh nhân nổi tiếng như Trạng nguyên Lương Thế Vinh; nhà cách mạng Trần Huy Liệu; nhạc sĩ Văn Cao; nhà thơ Nguyễn Bính; ba anh em nhà văn, nhà thơ Vũ Cao, Vũ Ngọc Bình và Vũ Tú Nam; nhà nông học Bùi Huy Ðáp… Vụ Bản còn là miền quê của thi ca như nhà thơ Nguyễn Bính viết “Trong bụng mẹ đã từng mê tiếng hát/Nên quê tôi ai cũng biết làm thơ”; của hát chầu văn kết hợp múa được sử dụng nhiều trong hoạt động tín ngưỡng – đây là hình thức sinh hoạt tôn giáo mà múa, hát, nhạc đã tạo niềm phấn khích đưa con người hợp nhất với thần linh.
Về đời sống tinh thần và tâm linh, ở Vụ Bản còn lưu giữ nhiều sinh hoạt tín ngưỡng nguyên sơ, đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều thôn, làng còn lưu tồn tục thờ các thế lực siêu nhiên có tác động đến đời sống con người. Nhưng phần lớn cộng đồng cư dân ở đây thường thờ những người có công với nước, giúp dân mở mang hương ấp, dắt dẫn dân sản xuất, mở mang văn hóa; các vị thần bảo vệ dân trước thiên tai, địch họa, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Ðó là tục thờ thần Bắc Nhạc, Ðông Hải, Tây Hải (là ba trong số 50 người con của Mẹ Âu Cơ theo Cha Lạc Long Quân xuống biển); thờ các thần trông coi mùa màng như Thần Nông, Hậu Tắc, Câu Mang, thần mây mưa, sấm sét… Trong đó đặc sắc, tiêu biểu nhất là “Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh” mà trung tâm của tín ngưỡng là khu quần thể di tích LSVH Phủ Dầy.
Phủ Dầy (có khi ghi là Phủ Giầy, Phủ Giày) là một quần thể di tích tâm linh của người Việt tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, gần quốc lộ 10 từ thành phố Nam Định đi thành phố Ninh Bình (tỉnh lộ 56). Trong đó, kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (phủ chính), ngay sát chợ Viềng. Các kiến trúc còn lại là phủ Tiên Hương, phủ Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, và lăng bà chúa Liễu Hạnh. Phủ Dầy là một quần thể di tích lịch sử văn hóa đã được Nhà nước xếp hạng cấp quốc gia từ năm 1975.Ngày 02 tháng 04 năm 2017, Quần thể di tích lịch sử – văn hóa Phủ Dầy vinh dự tổ chức lễ đón bằng UNESCO ghi danh “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Phủ Vân Cát nằm trong quần thể di tích Phủ Dầy
Theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Tam trong cuốn “Phủ Dầy và tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh” (tái bản năm 2004) thì: “Quần thể Phủ Dầy nằm trên địa bàn xã Kim Thái, chủ yếu là hai thôn Vân Cát và Tiên Hương gồm 19 di tích…”. Tại Phủ Dầy có ba di tích lớn, tiêu biểu là Phủ Tiên Hương (còn gọi là phủ chính), Phủ Vân Cát và Lăng Mẫu Liễu. Những di tích này cũng là di tích trực tiếp thờ phụng Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Ngoài ra, còn hơn chục đền phủ, chùa chiền có liên quan đến Mẫu Liễu Hạnh. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến ba di tích lớn, tiêu biểu liên quan trực tiếp đến Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở tại quê hương Thánh Mẫu trong quần thể di tích Phủ Dầy:
+ Phủ Tiên Hương
+ Phủ Vân Cát
+ Lăng Mẫu Liễu Hạnh
*Phủ Tiên Hương
Phủ Tiên Hương, được xây dựng từ thời Lê – Cảnh Trị (1663 – 1671) và đã qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn còn dấu tích của phủ cổ trước kia. Năm 1996, Phủ Tiên Hương đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân của Mẫu Liễu Hạnh và thờ cả đức Thánh Trần. Phủ Tiên Hương còn lưu giữ được một số sắc phong, sớm nhất là đời Lê Chính Hòa, rồi đến Lê Vĩnh Thịnh, Lê Vĩnh Khánh đầu thế kỷ XVIII.Thánh Mẫu được tôn là “Mạ vàng công chúa”, “Mẫu nghi thiên hạ”.

Phủ Tiên Hương nằm trong quần thể di tích phủ Dầy
*Phủ Vân Cát:
Phủ Vân Cát nằm ở phía bắc thôn Vân Cát thuộc xã Kim Thái, cách Phủ Tiên Hương chừng 1 km. Từ Phủ Tiên Hương đi thẳng tới ủy ban nhân dân xã Kim Thái, bên phải đi tới Lăng Mộ Thánh Mẫu, còn đi về bên trái là đi tới Phủ Vân Cát. Phủ nằm giữa đền làng Vân Cát và chùa Long Vân nơi thờ Phật, vì thế tạo Phủ Vân Cát nhìn về dãy núi An Thái phía Tây. Văn bia “Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký” được đặt ở Ngũ Vân Lâu trước phủ do Tổng tài quốc sư quán đời Nguyễn là Cao Xuân Dục soạn năm Thành Thái Tân Sửu (1901) viết về quá trình xây dựng phủ Vân Cát: “ .. .là một lầu cổ miếu, chọn đất dựng nền từ thời Lê Cảnh Trị (1633- 1671), làm đơn giản mà đẹp, Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794- 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại, đến năm Thành Thái thứ 12(1900) thì hoàn thành ”.

Nội cung Phủ vân Cát
*Lăng Mẫu Liễu:
Cùng với hai phủ chính, tại quần thể di tích Phủ Dầy còn có lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Theo Nam Định dư địa chí thì tại Cồn Cá Chép xã Tiên Hương có ngôi mộ cổ, xung quanh cây cối xanh tươi tương truyền là mộ Liễu Hạnh. Nhân dân trong làng mỗi khi có bệnh thường ra đây hai lá bẻ cành về sao vàng rồi sắc nước uống nên rất nhiều người đã khỏi bệnh. Thời Minh Mệnh (1820 – 1840) quan huyện Vụ Bản cho người xây gạch quanh ngôi mộ cổ nhưng chỉ xây một bệ nhỏ cho mọi người đến đặt lễ. Đó là lăng mộ Liễu Hạnh nằm trên cồn Cá Chép ở xứ Cây Đa thôn Tiên Hương. Năm 1938, vua Bảo Đại đã cho “Hội xuân kinh” triều đình Huế tiến hành hưng công xây dựng khu lăng Mẫu.
Quần thể các di tích phủ Dầy tại Vụ Bản – Nam Định mang phong cách nghệ thuật khá tiêu biểu và độc đáo qua các triều đại phong kiến Việt Nam bắt đầu từ thời Hậu Lê, tuy nhiên Trải qua những năm tháng chiến tranh, sự bào mòn của thời gian và tác động của con người mà ngày nay, các di sản của “Không gian văn hóa quần thể di tích Phủ Dầy” không còn nguyên vẹn, hoặc nhiều chỗ chỉ còn lại dấu tích, hầu hết các di tích đều đã được trùng tu, tôn tạo nhiều lần. Do đó, các dấu vết kiến trúc thời Lê hầu hết không còn mà được in đậm dấu ấn văn hóa nghệ thuật thời Nguyễn.
Những năm gần đây, cùng với việc giảng dạy văn hóa, để học sinh hiểu rõ hơn các giá trị văn hóa, lịch sử cũng như những truyền thống tốt đẹp của ông cha, hàng năm nhà trường đã tổ chức cho học sinh những buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp như: Các buổi tọa đàm giá trị truyền thống văn hóa; các buổi tham quan, trải nghiệm thực tế các di sản văn hóa ,… Đây là hình thức giáo dục trực quan sinh động giúp các bạn trẻ có nhận thức mới mẻ vào sâu sắc về giá trị truyền thống của cha ông để lại, khơi dậy niềm tự hào và ý thức giữ gìn truyền thống của thế hệ trẻ.

Lăng Mẫu Liễu
Cô giáo Vũ Thị Kim Lan, giáo viên bộ môn Lịch Sử của trường THPT Nguyễn Đức Thuận luôn nặng lòng với việc giáo dục giá trị truyền thống cho các thế hệ học sinh đã luôn cần mẫn tìm tòi, áp dụng những phương pháp dạy nhằm lồng ghép việc tuyên truyền về giá trị văn hóa lịch sử tới học sinh “Việc lồng ghép kiến thức, sáng tạo phương pháp chuyển tải sẽ giúp học sinh có hứng thú, tự giác tìm hiểu, biết trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa của địa phương.” Việc làm này là cần thiết và là một hướng đi đúng, phù hợp với thực tiễn giáo dục hiện nay, bởi nội dung giáo dục truyền thống sẽ được thực hiện một cách linh hoạt, mềm dẻo, đa dạng thông qua các di tích lịch sử. Không có sự giáo dục truyền thống nào tốt hơn khi các em được hiểu về mảnh đất mình được sinh ra và lớn lên, về nơi mà ông bà, cha mẹ mình đã sinh cơ, lập nghiệp. Tình yêu đất nước của mỗi người đều phải bắt nguồn từ tình yêu gia đình, làng xóm, quê hương…
Đánh giá về thái độ tiếp nhận của học sinh, cô Vũ Thị Thu Huyền – giáo viên bộ môn Lịch Sử cho biết, khi “thoát” ra khỏi sách vở và ghế nhà trường, học tập tại các địa điểm di tích , học sinh rất háo hức, qua đó tiếp thu rất nhiều điều bổ ích, như tinh thần tập thể, nề nếp, tinh thần kỉ luật, biết quan sát thế giới xung quanh, có những hiểu biết cơ bản về giá trị di tích văn hóa, rèn luyện nhiều kĩ năng,… Sau các trải nghiệm thực tế đó, trở về với lớp học các em tươi vui và học tập tiên bộ hơn.

Tập thể lớp 12A4 trong chuyến tham quan Phủ dầy
Có thể nói công tác giáo dục truyền thống, lịch sử địa phương đã thực sự tạo động lực, nhân lên tình yêu quê hương, đất nước cho thế hệ trẻ. Từ đó nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm trong học tập, lao động, biết vượt qua khó khăn, có ý chí và khát vọng phấn đấu để trở thành những công dân có ích, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, làm rạng danh thêm truyền thống đất và người xứ Thiên Bản.
